04/08/2020 15:46
Xem với cỡ chữ

Ấn tượng tăng trưởng của Việt Nam

Trả lời phỏng vấn Thời báo Ngân hàng, ông Ywert Visser - Phó Chủ tịch EuroCham bày tỏ sự ấn tượng trước công tác kiểm soát, phòng chống đại dịch Covid-19 và duy trì tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Để thúc đẩy tăng trưởng trong bối cảnh hiện nay, theo ông, Việt Nam cần chuẩn bị tốt cho Hiệp định EVFTA.
Tăng trưởng GDP của Việt Nam 6 tháng đầu năm nay rất thấp so với cùng kỳ các năm trước, ông nhìn nhận thế nào về điều này?
Tất nhiên chúng ta có thể nói, kinh tế tăng trưởng vậy là kém so với năm ngoái và các năm trước. Nhưng cũng ở Việt Nam thì mọi người mới có cơ hội để nói về nền kinh tế vẫn có tăng trưởng, bởi ở rất nhiều nước và khu vực khác, họ thậm chí đang trải qua tăng trưởng âm, suy thoái mạnh. Vì thế mà tôi thấy rất ấn tượng khi một mặt, Chính phủ Việt Nam đã kiểm soát tốt đại dịch Covid-19, mặt khác vẫn có các chính sách thúc đẩy được nền kinh tế trong nước, như thúc đẩy du lịch nội địa và nhiều chính sách khác và nhờ đó mà vẫn có được tăng trưởng dương.
Trong bối cảnh thời điểm hiệu lực của EVFTA đã tới rất gần, ông đánh giá thế nào về những thuận lợi, khó khăn trong thực hiện hiệp định nhìn từ phía Việt Nam?
Những lợi ích mang lại là rất lớn. Không chỉ về thuế quan được cắt giảm mà EVFTA còn tạo ra môi trường thuận lợi hơn cho hàng hóa của Việt Nam vào thị trường EU và mang lại những lợi ích rất lớn cho kinh tế vĩ mô. Một trong những lợi ích lớn khác mà tôi thấy là mối quan hệ Việt Nam-EU đang trở thành tâm điểm chú ý nhờ hiệp định này. Vì vậy, việc chuẩn bị sẵn sàng để khai thác tốt nhất các lợi ích mà Hiệp định mang lại và sẽ có hiệu lực từ tháng tới là rất cần thiết, trong đó tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh đến việc tiếp tục tập trung cải thiện môi trường kinh doanh ở Việt Nam là rất quan trọng.
Theo ông, Việt Nam cần tập trung vào giải quyết những vấn đề trước mắt và lâu dài nào để môi trường kinh doanh đảm bảo tương thích với EVFTA?
EVFTA là một hiệp định rộng lớn, bao hàm nhiều nội dung, lĩnh vực. Nhưng bản thân hiệp định sẽ không có ý nghĩa gì nếu quá trình triển khai thực thi không hiệu quả. Chúng tôi thấy Chính phủ Việt Nam đang hành động rất nhanh để thực hiện hiệp định, như Bộ Tài chính đang làm việc rất tích cực cho những thay đổi về thuế khi hiệp định có hiệu lực từ 1/8.
EuroCham cũng đóng góp rất mạnh mẽ vào quá trình chuẩn bị cho thực thi Hiệp định này. Ví dụ, chúng tôi đã thành lập Hội đồng kinh doanh EU-Việt Nam để ghi nhận các phản hồi từ cộng đồng DN hai bên về thực thi hiệp định và khi có bất cứ ý kiến nào về các vấn đề còn vướng mắc, cản trở chúng tôi đều liên hệ với các bên liên quan như Chính phủ Việt Nam, Phái đoàn EU tại Việt Nam hay với các bên liên quan để tìm cách giải quyết.
Cho đến hiện nay, tôi cho rằng các vấn đề chính chủ yếu liên quan đến mức độ hiểu biết về Hiệp định. Trước đây, quan tâm của DN thường tập trung vào thời điểm nào hiệp định sẽ có hiệu lực. Câu trả lời lúc này đã rõ rồi. Nay thì các DN quan tâm nhiều hơn vào các vấn đề cụ thể của DN họ, đặc biệt liên quan đến thuế quan. Như mức giảm với thuế xuất - nhập khẩu như thế nào, cách tính toán giảm thuế cụ thể ở từng lĩnh vực, từng loại hàng hóa cụ thể... và chúng tôi đang hỗ trợ các DN làm rõ những vấn đề cụ thể như vậy.
Vậy có còn khó khăn nào trong các khung khổ pháp lý, các điều kiện kinh doanh mà các DN EU còn gặp phải và phản ánh không?
Tất nhiên là vẫn còn chứ. Những vướng mắc cụ thể trong từng ngành, từng lĩnh vực của cộng động DN EU chúng tôi đã nêu và kiến nghị trong Sách Trắng 2020 công bố mới đây, cũng như đã đề cập cụ thể tại Hội nghị Đối thoại giữa Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính và EuroCham ngày 30/6 vừa qua.
Sách Trắng 2020 có đề xuất, để phục hồi trong giai đoạn hậu Covid-19 “Việt Nam không chỉ cần bảo vệ các DN nội địa mà còn cần hỗ trợ các DN nước ngoài”. Xin ông cho biết cụ thể về đề xuất này?
Có nhiều cách để hỗ trợ các DN nước ngoài trong đó có các DN thành viên của EuroCham nhưng tôi cho rằng, một trong những cách hỗ trợ chính và hiệu quả nhất là thông qua tổ chức các buổi đối thoại như vừa qua, từ đó phía Chính phủ, cơ quan quản lý có thể nắm bắt trực tiếp và nhanh chóng các vấn đề mà DN phản ánh cũng như đề xuất của họ. Bên cạnh đó trong thời gian vừa qua, do có khoảng thời gian giãn cách xã hội thì chúng tôi cũng đã có rất nhiều trao đổi với Chính phủ và các cơ quan quản lý để phản ánh về những khó khăn của DN và đề xuất tháo gỡ trong từng trường hợp cụ thể.
Trong thời gian gần đây, chúng tôi đã có một số cuộc thảo luận về việc tạo điều kiện thuận lợi cho các chuyên gia nước ngoài và gia đình của họ vào Việt Nam. Có nhiều DN châu Âu muốn cử các chuyên gia, quản lý của họ vào Việt Nam để triển khai các dự án nhưng việc ra vào khá khó khăn vì dịch Covid-19. Đến nay thì các quy định về việc vào Việt Nam phải cách ly; hay thủ tục, quy trình để ra vào đã rõ ràng hơn. Có lẽ lúc này, vướng mắc chính chỉ còn là việc thu xếp các chuyến bay giữa hai bên.
Nhưng khi sang, họ sẽ phải tuân thủ quy định cách ly tập trung trong vài tuần, điều đó có khiến họ cảm thấy bất tiện?
Tất nhiên là có, nhưng đây là quy định cần thiết để đảm bảo kiểm soát dịch. Tôi nghĩ với những khách sang Việt Nam để du lịch, hay chỉ ở lại đây ngắn ngày thì điều này là bất tiện lớn. Còn với các chuyên gia, những người sang Việt Nam để làm việc trong thời gian dài thì điều đó không có vấn đề gì. Cá nhân tôi cũng cho rằng, hoạt động du lịch (khách từ châu Âu sang Việt Nam) sẽ rất khó có thể mở trở lại trong năm nay, bởi thực tế là tại nhiều nơi ở châu Âu tình hình dịch Covid-19 vẫn rất phức tạp.
Xin cảm ơn ông!
Hoàng Minh theo thoibaonganhang
Tìm theo ngày :